Iatebes’s Weblog

My Stock

Tạo webserver tại nhà Tháng Tư 2, 2008

Chuyên mục: Mạng (Network) — iatebes @ 2:03 chiều

Đầu tiên sử dụng bộ cài đặt tổng hợp gồm :
Đây là phiên bản cài đặt trọn bộ Localhost (16mb)
http://umn.dl.sourceforge.net/source…in32-2.4.5.exe (Hiện tại đã có bản mới, các bạn có thể tìm thấy trên google)
Sau khi cài đặt các bạn sẽ có đầy đủ

# Apache Web Server Version 1.3.34
# PHP Script Language Version 4.4.1
# MySQL Database Version 5.0.16
# phpMyAdmin Database Manager Version 2.5.7-pl1

Truy cập phpMyadmin tại http://localhost/phpMyAdmin/

Path run code C:\AppServ\www

Sau đó là Dynamic DNS

* Dịch vụ Dynamic DNS của homeip.net (nên dùng home-ip.net vì có tính ổn định và security cao)

Đầu tiên bạn vào trang chủ của homeip.net , đăng kí lấy cho mình 1 account để được sử dụng dịch vụ Dynamic DNS ( Free) http://dyndns.org

1. Sau khi bạn đăng kí xong sẽ nhận được 1 email thông báo về thông tin của account.
2. Bạn đăng nhập với tên user và pass mà bạn đã đăng kí:
3. Sau đó bạn ở phần My Account —–>> My Services
Trong phần này bạn chọn Add Host Services nằm ở góc dưới cùng bên phải:
Trong phần Add Host Services có các dịch vụ sau:
Bạn chọn Add Dynamic DNS Host, có giao diện như hình sau:
Hostname: bạn điền tên subdomain mà bạn muốn create, bên cạnh đó còn có những list domain được homeip.net cung cấp free và có phí
Các thông còn lại các bạn cứ giữ nguyên, và đánh dấu check vào ô Enable Wildcard.
Sau đó nhấn nút Add Host để hoàn tất qúa trình.
Sau khi bạn đã cấu hình xong, bạn vào phần Support nằm ở phía trên
Bạn sẽ thấy ngay Client Support, bạn chọn Download Update Clients và sau đó download về DynDNS Updater (1.12MB), chương trình này cũng có chức năng tương tự như NO-IP DUC.

1. Sau khi bạn Setup xong DynDNS Updater, sẽ có biểu tưởng của chương trình nằm ở Taskbar. Bạn double click vào icon chương trình:

Sau đó bạn Settings à Groups à Đến đây bạn chọn Add, sau đó điền tên group vào (đặt sao tuỳ bạn, vd: server). Bước kế tiếp, bạn đánh Username và Password của tài khoản mà bạn đã đăng kí ở homeip.net, sau đó lại chọn Add tiếp, và đánh tên domain mà bạn đã tạo ở homeip.net (VD: tôi đã tạo cái: hieupc.homeip.net)

Cuối cùng bạn: click nút download và check vào hieupc.homeip.net. Sau đó click OK.

Settings à Connections : bạn chọn Local Area Network
Settings à Ip Address : chọn Use default setting và bạn click Detect My IP, những phần còn lại các bạn giữ nguyên hoặc edit lại theo ý muốn. Sau đó click Okie.
Khi ra khỏi Settings, bạn vào Options ở giao diện chính : chọn Start with Windows và Enabled Automatic Update. (Để update IP cho bạn)
Sau đó bạn click OK. Finish.
Chú ý: bạn thấy icon màu xanh lá thì tốt hoặc icon màu vàng, màu đỏ thì bạn nên kiểm tra. Phải luôn kiểm tra chương trình có chạy ở Taskbar.

Sau khi những việc trên hoàn tất bạn cần phải config cho modem để mở cổng 80 hoặc 8080 (tuỳ từng loại modem mà bạn config theo các cách khác nhau – có hướng dẫn ở trên)

Sau khi config modem xong bạn vào thử http://tenban.homeip.com

nếu nó trỏ thẳng đến quyền truy nhập modem của bạn nghĩa là bạn đã thành công đến 90% rồi đấy

bây giờ bạn vào :\WINDOWS\system32\drivers\etc\ mở file host bằng notepad (Cách này đơn giản hơn và nhanh hơn. Vì lẽ đầu tiên Windows sẽ tìm trong tệp tin host này xem có thông tin về IP của một tên miền trỏ đến khi mà từ trình duyệt gõ một URL. (Bước tìm thứ 2 là tìm ở DNS Server mà IP của DNS Server này “đc lưu” ở Network Connection. )

file đó như sau:

# Copyright (c) 1993-1999 Microsoft Corp.
#
# This is a sample HOSTS file used by Microsoft TCP/IP for Windows.
#
# This file contains the mappings of IP addresses to host names. Each
# entry should be kept on an individual line. The IP address should
# be placed in the first column followed by the corresponding host name.
# The IP address and the host name should be separated by at least one
# space.
#
# Additionally, comments (such as these) may be inserted on individual
# lines or following the machine name denoted by a ‘#’ symbol.
#
# For example:
#
# 102.54.94.97 rhino.acme.com # source server
# 38.25.63.10 x.acme.com # x client host

127.0.0.1 localhost

lúc này bạn vào Start —> Run gõ cmd

Hộp thoại hiện ra bạn gõ”ipconfig” mục đích là lấy cái IP Address của máy mình nó có dạng 192.168……

bạn điền xuống dưới file kia

ví dụ IP của bạn là: 192.168.1.100 và domain của bạn vừa reg ở dyndns là: doanminhluan.homeip.com

thì

# Copyright (c) 1993-1999 Microsoft Corp.
#
# This is a sample HOSTS file used by Microsoft TCP/IP for Windows.
#
# This file contains the mappings of IP addresses to host names. Each
# entry should be kept on an individual line. The IP address should
# be placed in the first column followed by the corresponding host name.
# The IP address and the host name should be separated by at least one
# space.
#
# Additionally, comments (such as these) may be inserted on individual
# lines or following the machine name denoted by a ‘#’ symbol.
#
# For example:
#
# 102.54.94.97 rhino.acme.com # source server
# 38.25.63.10 x.acme.com # x client host

127.0.0.1 localhost

203.168.1.38 vipol.homeip.com

203.168.1.38 http://vipol.homeip.com

Bạn save nó vào nhé rồi run thử xem

Và bây giờ bạn thử xem nào Okie rồi nhé!

Nếu chỉ muốn cài IIS ko thì bạn cài IIS như bình thường rồi config modem và làm các bước như trên. Nhớ phải tắt firewall của WIN và modem đi nhé.

 

Sự khác biệt giữa Hub, Switch và Router Tháng Ba 25, 2008

Chuyên mục: Mạng (Network) — iatebes @ 1:54 chiều
Ngày nay, hầu hết các router đều là thiết bị kết hợp nhiều chức năng, và thậm chí nó còn đảm nhận cả chức năng của switch và hub.

Đôi khi router, switch và hub được kết hợp trong cùng một thiết bị, và đối với những ai mới làm quen với mạng thì rất dễ nhầm lẫn giữa chức năng của các thiết bị này.

Nào chúng ta hãy bắt đầu với hub và switch bởi cả hai thiết bị này đều có những vai trò tương tự trên mạng. Mỗi thiết bị dều đóng vai trò kết nối trung tâm cho tất cả các thiết bị mạng, và xử lý một dạng dữ liệu được gọi là “frame” (khung). Mỗi khung đều mang theo dữ liệu. Khi khung được tiếp nhận, nó sẽ được khuyếch đại và truyền tới cổng của PC đích. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai thiết bị này là phương pháp phân phối các khung dữ liệu.

Với hub, một khung dữ liệu được truyền đi hoặc được phát tới tất cả các cổng của thiết bị mà không phân biệt các cổng với nhau. Việc chuyển khung dữ liệu tới tất cả các cổng của hub để chắc rằng dữ liệu sẽ được chuyển tới đích cần đến. Tuy nhiên, khả năng này lại tiêu tốn rất nhiều lưu lượng mạng và có thể khiến cho mạng bị chậm đi (đối với các mạng công suất kém).
Ngoài ra, một hub 10/100Mbps phải chia sẻ băng thông với tất cả các cổng của nó. Do vậy khi chỉ có một PC phát đi dữ liệu (broadcast) thì hub vẫn sử dụng băng thông tối đa của mình. Tuy nhiên, nếu nhiều PC cùng phát đi dữ liệu, thì vẫn một lượng băng thông này được sử dụng, và sẽ phải chia nhỏ ra khiến hiệu suất giảm đi.

Trong khi đó, switch lưu lại bản ghi nhớ địa chỉ MAC của tất cả các thiết bị mà nó kết nối tới. Với thông tin này, switch có thể xác định hệ thống nào đang chờ ở cổng nào. Khi nhận được khung dữ liệu, switch sẽ biết đích xác cổng nào cần gửi tới, giúp tăng tối đa thời gian phản ứng của mạng. Và không giống như hub, một switch 10/100Mbps sẽ phân phối đầy đủ tỉ lệ 10/100Mbps cho mỗi cổng thiết bị. Do vậy với switch, không quan tâm số lượng PC phát dữ liệu là bao nhiêu, người dùng vẫn luôn nhận được băng thông tối đa. Đó là lý do tại sao switch được coi là lựa chọn tốt hơn so với hub.
Còn router thì khác hoàn toàn so với hai thiết bị trên. Trong khi hub hoặc switch liên quan tới việc truyền khung dữ liệu thì chức năng chính của router là định tuyến các gói tin trên mạng cho tới khi chúng đến đích cuối cùng. Một trong những đặc tính năng quan trọng của một gói tin là nó không chỉ chứa dữ liệu mà còn chứa địa chỉ đích đến.

Router thường được kết nối với ít nhất hai mạng, thông thường là hai mạng LAN hoặc WAN, hoặc một LAN và mạng của ISP nào đó. Router được đặt tại gateway, nơi kết nối hai hoặc nhiều mạng khác nhau. Nhờ sử dụng các tiêu đề (header) và bảng chuyển tiếp (forwarding table), router có thể quyết định nên sử dụng đường đi nào là tốt nhất để chuyển tiếp các gói tin. Router sử dụng giao thức ICMP để giao tiếp với các router khác và giúp cấu hình tuyến tốt nhất giữa bất cứ hai host nào.

Ngày nay, có rất nhiều các dịch vụ được gắn với các router băng rộng. Thông thường, một router bao gồm 4-8 cổng Ethernet switch (hoặc hub) và một bộ chuyển đổi địa chỉ mạng – NAT (Network Address Translator). Ngoài ra, router thường gồm một máy chủ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol), máy chủ proxy DNS (Domain Name Service), và phần cứng tường lửa để bảo vệ mạng LAN trước các xâm nhập trái phép từ mạng Internet.
Tất cả các router đều có cổng WAN để kết nối với đường DSL hoặc modem cáp – dành cho dịch vụ Internet băng rộng, và switch tích hợp để tạo mạng LAN được dễ dàng hơn. Tính năng này cho phép tất cả các PC trong mạng LAN có thể truy cập Internet và sử dụng các dịch vụ chia sẻ file và máy in.
Một số router chỉ có một cổng WAN và một cổng LAN, được thiết kế cho việc kết nối một hub/switch LAN hiện hành với mạng WAN. Các switch và hub Ethernet có thể kết nối với một router để mở rộng mạng LAN. Tuỳ thuộc vào khả năng (nhiều cổng) của mỗi router, switch hoặc hub, mà kết nối giữa các router, switche/hub có thể cần tới cáp nối thẳng hoặc nối vòng. Một số router thậm chí có cả cổng USB và nhiều điểm truy cập không dây tích hợp.
Một số router cao cấp hoặc dành cho doanh nghiệp còn được tích hợp cổng serial – giúp kết nối với modem quay số ngoài, rất hữu ích trong trường hợp dự phòng đường kết nối băng rộng chính trục trặc, và tích hợp máy chủ máy in mạng LAN và cổng máy in.
Ngoài tính năng bảo vệ được NAT cung cấp, rất nhiều router còn có phần cứng tường lửa tích hợp sẵn, có thể cấu hình theo yêu cầu của người dùng. Tường lửa này có thể cấu hình từ mức đơn giản tới phức tạp. Ngoài những khả năng thường thấy trên các router hiện đại, tường lửa còn cho phép cấu hình cổng TCP/UDP dành cho game, dịch vụ chat, và nhiều tính năng khác.

Và như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn là: hub được gắn cùng với một thành phần mạng Ethernet; switch có thể kết nối hiệu quả nhiều thành phần Ethernet với nhau; và router có thể đảm nhận tất cả các chức năng này, cộng thêm việc định tuyến các gói TCP/IP giữa các mạng LAN hoặc WAN, và tất nhiên còn nhiều chức năng khác nữa.